Khi thực hiện e-marketing, bạn cần nhớ một số nguyên tắc sau:
- Nội dung thông điệp: nội dung thông điệp phải được trau chuốt về câu chữ, hình ảnh sao cho thu hút người đọc, gợi tính tò mò của người đọc, và cung cấp đầy đủ thông tin hướng dẫn để người đọc biết mình phải làm gì sau đó.
- Tính chuyên nghiệp: tính chuyên nghiệp được thể hiện qua nhiều cách, ví dụ như nếu bạn gửi email marketing thì nhất thiết phải có chức năng từ chối nhận tiếp dành cho người không quan tâm, nếu có người quan tâm email hỏi thông tin thì bạn phải trả lời nhanh nhất có thể, cung cấp câu trả lời trọn vẹn, rõ ràng nhất…
- Tần suất: tần suất marketing qua mạng tùy thuộc vào từng hành động cụ thể, nói tóm tắt, nếu gửi email marketing thì không nên gửi “dầy” quá (tức thời gian giữa 2 lần gửi ngắn quá, chỉ 1-2 ngày), còn các việc đăng rao vặt, tìm kiếm đối tác, đăng ký liệt kê trên danh bạ website, trao đổi link… thì phải làm rất thường xuyên mỗi tuần 2 - 3 lần.
- Chi phí: có những cách e-marketing tốn rất nhiều tiền như đặt banner (song, hiệu quả chưa chắc là tốt trong trường hợp số người vào xem website đó không bận tâm đến banner của bạn), cũng có những cách e-marketing đòi hỏi sự kiên trì, công sức, kỹ thuật và thời gian là chủ yếu. Cho nên, không phải chi nhiều tiền là marketing hiệu quả.
- Hiệu quả: khi bạn có chiến dịch e-marketing bằng một hình thức nào, bạn nên theo dõi kết quả. Marketing qua mạng rất dễ thấy kết quả ngay sau đó. Bạn phải theo dõi nghiên cứu ghi nhận kết quả của từng hành động marketing để có chiến lược marketing sâu sát hơn, hiệu quả hơn.
Có một số điều quan trọng để bạn phải lưu ý khi thực hiện e-marketing, bởi vì nếu bạn sơ ý mắc sai lầm thì công sức e-marketing bạn bỏ ra xem như “công dã tràng”.
- Bạn đừng bao giờ gửi thông điệp marketing qua email đến người khác khi nội dung, thiết kế của thông điệp chưa được đẹp, ấn tượng, chuyên nghiệp, nhất là khi còn lỗi chính tả, lỗi ngữ pháp…
- Bạn phải cho người nhận email quyền lựa chọn có nhận tiếp hay không, không nên làm người nhận “ghét cay ghét đắng” công ty của bạn khi họ bị tấn công “bom thư” bởi bạn.
- Bạn phải cân nhắc kỹ nên đầu tư chi phí cho e-marketing như thế nào để hiệu quả cao nhất (ví dụ đặt banner ở website nào)
- Và việc e-marketing là việc cần làm thường xuyên, bạn phải trang bị cho mình kiến thức về Internet, tiếng Anh, và một số kỹ năng marketing qua mạng. Bạn có thể học các kỹ năng này qua việc đọc các bài viết hướng dẫn tiếng Anh và Việt trên các website (tiếng Anh thì nhiều hơn, phong phú hơn, chuyên sâu hơn).
Phát triển kinh doanh với chiến lược Email marketing lan truyền
Khi xây dựng một mạng lưới email marketing cho doanh nghiệp, vấn đề thường gặp nhất với mọi người là làm sao duy trì nguồn cung cấp các địa chỉ e-mail luôn mới mẻ và ổn định.
Có một cách rất dễ để vượt qua khó khăn này là mua trực tiếp các danh sách địa chỉ e-mail từ chính các công ty chuyên cung cấp dịch vụ này.
Trên mạng Internet có rất nhiều công ty thuộc dạng này như Google, Yahoo, Looksmart… có công ty chỉ bán các danh sách nhưng cũng có những công ty có cả một chương trình tiếp thị, họ vừa cung cấp các địa chỉ vừa hướng dẫn phát triển chúng và cả một kế hoạch thu hồi.
Nhìn chung, bạn sẽ được lãi hơn khi sử dụng các chương trình phát triển địa chỉ email, bởi hoặc là bạn sẽ bổ xung thêm nhiều địa chỉ email hoặc sẽ có tiền hoa hồng.
Khi bạn tìm được một chương trình cung cấp danh sách email chất lượng, bạn chuyển nó đến cho những người ở lớp kinh doanh cấp 1 (primary business downline) của bạn. Bây giờ lớp này sẽ có các đầu mối họ cần để có thể kết nạp thêm thành viên mới và một lớp cấp 2 trong chương trình phát triển của bạn sẽ được hình thành.
Rồi bạn lại “tái đầu tư” để kiếm thêm các danh sách email cho lớp cấp 1 và chuyển chương trình phát triển đến các thành viên mới mà bạn vừa kết nạp.
Cứ lặp lại như vậy, càng về sau bạn sẽ càng có nhiều danh sách địa chỉ email và đến một lúc nào đó lớp kinh doanh cấp 1 của bạn sẽ “nổ tung” tức là lúc đó số lượng địa chỉ của bạn đã trở nên quá nhiều, một mình bạn thì sẽ không đủ sức làm. Khi đó hãy để những người chịu trách nhiệm lớp kinh doanh cấp 1 phát triển tiếp chương trình của bạn. Bạn có thể dùng các danh sách này như là một phần thưởng cho những thành công hoặc để giúp các thành viên mới bắt đầu phát triển với sự khởi đầu tốt đẹp.
Lưu ý khi xem xét các nguồn danh sách, bạn cần phải kiểm tra xem những danh sách đó có còn mới và chưa từng bị bán cho nhiều người trước bạn hay không. Có một số công ty cung cấp bán một danh sách địa chỉ email tới 10 lần. Đồng thời, phải luôn nhớ yêu cầu họ cung cấp cho bạn địa chỉ IP và tem bảo hành của danh sách đó nhờ vậy bạn sẽ được bảo vệ nếu có khiếu kiện gì về spam. Nếu bạn dùng nguồn cung cấp uy tín bạn sẽ không thể gặp vấn đề gì hết.
1. Thuận lợi và khó khăn khi sử dụng autoresponders
1.1. Thuận lợi: Hộp thư tự động trả lời cho phép chúng ta có thể gửi thông tin đến người khác bằng email mà không cần phải truy cập vào mạng Web.
Một hộp thư tự động trả lời cho phép chúng ta có thể trả lời nhanh những câu hỏi từ phía khách hàng hay các đối tác (trước khi họ quyết định không quan tâm đến nữa). Hơn nữa, nếu một ai đó gửi yêu cầu đến chúng ta qua email một cách thường xuyên, chúng ta sẽ không thể trả lời ngay lập tức được (Bởi vì đôi lúc chúng ta còn phải nghỉ ngơi, thư giãn.) Tuy nhiên, một hộp thư tự động trả lời có thể trả lời 24/7 và thậm chí những câu trả lời thường được gửi đến người nhận chỉ trong vòng vài giây.
Sẽ tiện lợi hơn cho khách hàng của chúng ta khi họ nhấn chuột vào những đường link email của hộp thư tự động trả lời hơn là nhấn chuột vào đường link URL, và sau đó phải đi dạo quanh website để tìm kiếm những thông tin mà họ cần.
Các hộp thư tự động trả lời có thể được sử dụng cho nhiều loại yêu cầu: gửi thông tin, xác nhận đơn đặt hàng, thư cảm ơn, thư xác nhận và cảm ơn khách hàng (ví dụ: chúng tôi đã nhận được email của bạn, và chúng tôi sẽ trả lời câu hỏi của bạn trong 1 giờ đồng hồ… )
1.2. Khó khăn:
Chúng ta chỉ có thể trả lời với một khối lượng thông tin nhất định. Tuy nhiên, những hộp thư tự động trả lời vẫn là con đường đơn giản nhất để gửi những bức thông điệp đến khách hàng; và sau đó, để có nhiều thông tin cụ thể và chi tiết hơn, họ có thể trực tiếp tìm kiếm tại trang web của chúng ta hay liên hệ trực tiếp qua điện thoại, gửi thư qua đường bưu điện.
2. Lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ autoresponders
Hiện nay, có rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ hộp thư tự động trả lời. Và nhìn chung, bạn có thể sử dụng dịch vụ này theo hai xu hướng: tính phí dịch vụ hoặc sử dụng miễn phí. Trong trường hợp sử dụng miễn phí, thông thường các nhà cung cấp dịch vụ thường yêu cầu một vị trí đặt quảng cáo nhỏ trong các bức thông điệp của bạn. Kích cỡ và vị trí đặt quảng cáo hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ cũng như sự thương lượng giữa bạn và nhà cung cấp. Việc quyết định sử dụng dịch vụ nào là phụ thuộc vào nhu cầu và nguồn ngân sách của bạn, điều quan trọng là bạn không nên nhìn nhận sai lệch về chất lượng của những dịch vụ miễn phí.
Để có được một dịch vụ hộp thư trả lời tự động tốt, điều mà bạn nên quan tâm khi lựa chọn các nhà cung cấp đó là: số lượng hộp thư mà bạn được miễn phí; tên của hộp thư đó là gì? Tốt nhất là bạn nên thương lượng để có một tên riêng - liên quan đến sản phẩm hay hoạt động kinh doanh của bạn. Một điều quan trọng khác mà bạn cần phải lưu ý là liệu bạn có nhận được những thông báo về những khách hàng được cung cấp thông tin từ hộp thư tự động trả lời của nhà cung cấp hay không? Điều này là hoàn toàn quan trọng bởi bạn cũng cần phải cập nhật và giải quyết những yêu cầu đặc biệt mà khách hàng gửi đến. Ngoài ra, bạn cũng cần phải quan tâm đến độ lớn của bức thư mà bạn được phép gửi và khả năng thiết lập một hay nhiều bức thư tiếp theo tự động gửi đến những địa chỉ đã từng có yêu cầu bởi vì cũng như khi xem một quảng cáo, khách hàng bao giờ cũng xem lại nhiều lần trước khi đưa ra quyết định mua hàng.
3. Mười lời khuyên cho việc sử dụng autoresponders trong công việc kinh doanh của bạn. Soạn thảo danh sách các câu hỏi thường gặp (FAQ) và đưa vào giới thiệu trong hộp thư tự động trả lời.
Tổ chức một khoá học đào tạo về thư điện tử và cung cấp chương trình đó qua hộp thư tự động trả lời. Tăng cường các mối quan hệ giữa bạn và các khách hàng tiềm năng trong suốt thời gian của khoá học.
Giới thiệu các bản tin, ấn phẩm hay các tạp chí điện tử của bạn trong những hộp thư tự động trả lời. Và tốt nhất là hãy tạo các đường link đến các bản tin, ấn phẩm đã xuất bản để người đăng ký "tiềm năng" có thể đọc và tham khảo trước khi quyết định đăng ký nhận tin.
Xây dựng các thông tin về sản phẩm, dịch vụ của bạn và giới thiệu chúng trong các hộp thư tự động trả lời. Bạn cũng có thể gửi kèm theo những bảng giá được cập nhật và thông tin chi tiết về mỗi một sản phẩm và dịch vụ của bạn.
Tạo ra một bảng các thông tin quảng cáo của bạn và hãy để cho nó luôn sẵn có trong autoresponder. Những nhà quảng cáo tiềm năng của bạn có thể lấy thông tin bất kể lúc nào mà họ muốn.
Thông báo các vị trí cần tuyển dụng và những miêu tả cụ thể về công việc trong hộp thư tự động trả lời. Người có nhu cầu xin việc sẽ luôn nhận được thông tin cập nhật và ngay lập tức.
Đưa ra các tờ rơi miễn phí và post sẵn trong các hộp thư tự động trả lời. Đây là một phương pháp marketing chuẩn mực để cho các khách hàng tiềm năng thấy được chuyên môn của bạn.
Đặt tất cả các thư chào hàng của bạn vào hộp thư tự động trả lời. Kèm theo cả các mẫu đơn đặt hàng ở cuối mỗi thư chào hàng và khuyến khích người nhận điền thông tin đặt hàng và email lại cho bạn.
Sử dụng autoresponder để cảm ơn những người gửi thông tin cho bạn. Làm như vậy khách hàng sẽ biết được rằng bạn đã nhận được thư của họ và bạn mong chờ nhận được thư hồi âm của họ.
Thiết lập một danh mục tất cả những thông tin mà bạn cung cấp trong hộp thư tự động trả lời. Và đưa chúng vào một lá thư tự động gửi, cho phép khách hàng nhận được tất cả những thông tin đó.
1. Cách thức thu hút khách hàng đến trang Web của bạn
Quảng cáo sản phẩm và dịch vụ trên mạng được xem là một phương thức marketing hướng đối tượng thích hợp. Nó có khuynh hướng kích thích sự quan tâm của người mua hàng tới sản phẩm trên trang web của bạn. Chính vì thế, quảng cáo trên mạng có thể có hiệu quả hơn nhiều so với quảng cáo đại trà trên ti vi, báo chí hoặc các phương tiện thư từ khác.
Sau đây là một số nguyên tắc để thu hút sự chú ý của khách hàng đến trang web của bạn :
· Sử dụng các công cụ tìm kiếm đa chức năng.
· Cung cấp cho khách hàng các địa chỉ website mới của bạn, cho phép họ truy cập vào trang web của bạn một cách thường xuyên.
· Công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng về website của mình
· Thiết lập các đường dẫn tới các website tuơng thích với website của bạn, chẳng hạn những website về cùng một thị trường định hướng giống như bạn và không cạnh tranh với website của bạn .
· Viết các bài báo, bài bình luận, những trang web mà ngành của bạn thường hay quan tâm .
· In địa chỉ web, E-mail trên các đồ văn phòng phẩm và các cardvisit của công ty.
· Quảng cáo trang web trên các phương tiện thông tin ở địa phương.
· In địa chỉ trang web trong cuốn những trang vàng địa chỉ Internet.
· Thông báo cho những người đại diện bán hàng về website mới.
· Ðưa ra các mức giảm giá cho những người mua hàng trực tuyến.
· Gửi các bưu ảnh hài hước về trang web của mình.
Như những nguyên tắc trên đã chỉ ra, bạn nên quảng cáo website của mình thông qua các hình thức quảng cáo truyền thống và thông qua hình thức quảng cáo sử dụng các kết nối tương hỗ. Nếu khách hàng quan tâm đến nhưng thông tin của bạn, họ sẽ đánh dấu địa chỉ và truy cập vào lần sau.
2. Những nhân tố giúp cho việc bán các sản phẩm, dịch vụ có hiệu quả trên mạng.
· Sử dụng những hình thức đặc biệt để mô tả sản phẩm và dịch vụ. Nếu có thể mô tả sản phẩm và dịch vụ của mình bằng các hình thức đặc biệt, thì nên áp dụng hình thức đó trên mạng bởi vì tìm kiếm trên mạng dễ dàng hơn nhiều nhờ sự hỗ trợ của các phương tiện tìm kiếm đặc biệt. Bạn cũng có thể quảng cáo cho sản phẩm và dịch vụ bằng sự kết hợp của nhiều hình thức khác nhau mà khách hàng có thể sẽ áp dụng khi tìm kiếm các loại sản phẩm của mình với điều kiện là những hình thức đó sẽ xuất hiện thường trực trên các trang web mà bạn yêu cầu những phương tiện tìm kiếm đó liệt kê lên.
· Sử dụng chính sách định giá cạnh tranh. Nơi nào trên Internet hỗ trợ khách hàng so sánh giá của những mặt hàng cùng loại thì những mặt hàng có giá thấp nhất sẽ bán chạy nhất. Ðồng thời đối với hầu hết các sản phẩm, những mức giá trực tuyến có thể sẽ phải thấp hơn giá trên các cửa hàng nhằm tạo nên một sự ưu đãi để tạo sự tin tưởng của khách hàng đối với các nhà bán lẻ trên mạng, một phần do thiếu đi sự gặp gỡ giữa các cá nhân trong các giao dịch, và để bù lại việc khách hàng không thể mang hàng về cho mình.
· Yếu tố hữu hình: Khách hàng vẫn muốn cầm nắm, xem xét, nếm, thử hoặc nói chuyện với một ai đó trước khi mua hàng. Người bán nên cung cấp các sản phẩm của mình cho các cửa hàng bán lẻ hoặc dự trữ các sản phẩm đó ở những nơi mà khách hàng có thể đến để cận mục sở thị trước khi quay lại mạng để tiến hành mua bán.
· Sự đồng nhất của các mặt hàng. Các mặt hàng sản xuất hàng loạt thường dễ bán hơn so với các mặt hàng thủ công hoặc sản xuất theo phương pháp truyền thống. Những mặt hàng sản xuất hàng loạt thường có sự nhất quán hơn về các đặc điểm của mình, có chi phí sản xuất dễ tính hơn, và được nhiều người biết hơn.
· Những yêu cầu gián tiếp. Khách hàng sẽ có khuynh hướng mua các mặt hàng chưa có nhu cầu hiện tại trên mạng hơn là các mặt hàng để sử dụng ngay. Những nhà sản xuất có khả năng lập các kế hoạch sản xuất định trước, các kế hoạch xếp hàng và giao hàng sẽ có cơ hội lớn hơn trong việc sử dụng Internet để xúc tiến bán hàng.
· Sự hiểu biết của khách hàng về sản phẩm. Người ta cho rằng thương mại trực tuyến giữa các doanh nghiệp (B2B) sẽ tăng nhanh hơn thương mại trực tuyến giữa doanh nghiệp và khách hàng (B2C) (Trừ trường hợp đối với các công ty lớn như Amadon, Auto Bytel , CD Now And Dell). Lý do là không giống như phần lớn các khách hàng, các doanh nghiệp không lạ gì những đặc điểm của mặt hàng mà họ cần và vì thế cảm thấy thoả mái hơn trong việc đặt hàng trên mạng.
· Các mặt hàng được mua bán thường xuyên. Những mặt hàng được tiêu chuẩn hoá được mua bán thường xuyên (nuoc hoa, đồ gia dụng, quần áo trẻ em, đồ văn phòng phẩmv.v...) thường quen thuộc với khách hàng và vì thế dễ dàng đặt hàng trên mạng hơn. Những giao dịch này sẽ tiết kiệm thời gian và tránh cho họ thoát khỏi sự nhàm chán khi mua bán.
3. Những dịch vụ có thể triển khai được trên mạng.
Những dịch vụ sau đây là những dịch vụ có thể triển khai thành công trên mạng.
· Kế toán
· Quảng cáo
· Giáo dục đào tạo mang tính thương mại
· Các phần mềm và dịch vụ máy tính
· Môi giới hải quan
· Các dịch vụ tài chính, y tế, chăm sóc sức khoẻ từ xa
· Bảo hiểm
· Nghiên cứu thị trường.
· Tìm kiếm lao động
· Thông tin và truyền thông
· Các dịch vụ lữ hành
· Dịch thuật
· Thiết kế và bảo trì trang web
· Tư vấn quản lý
· Giáo dục
· Dịch vụ in ấn và đồ hoạ
· Các dịch vụ đấu giá
· Các dịch vụ viết thuê
Chỉ cần đảo qua một số trang web tìm kiếm chủ yếu như Yahoo (www.yahoo.com) hoặc là Google (www.google.com) có thể thống kê ra một loạt các dịch vụ thuộc mọi thể loại khác nhau đang được cung cấp trên mạng.
Sự thành công của một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng cũng phụ thuộc vào các yếu tố thông thường; chẳng hạn mức độ sản phẩm đó đáp ứng nhu cầu thị trường như thế nào. Tuy nhiên, các nhà cung cấp dịch vụ lại có duyên với Internet bởi vì các sản phẩm của họ có khuynh hướng được xử lý bằng kỹ thuật số. Phần lớn các nhà cung cấp dịch vụ hoạt động thu thập, lưu trữ, điều khiển và truyền bá thông tin .
Các thông tin được số hoá có thể dễ dàng thu thập và truyền tải ở mức chi phí thấp hơn thông qua Internet so với các phương tiện khác.Các dịch vụ viễn thông cũng thu hút được rất nhiều khách hàng thông qua Internet. Tiếng nói thông qua các nhà cung cấp cổng Internet sử dụng công nghệ IP để truyền tiếng nói điện thoại thông qua các kênh dữ liệu là một lĩnh vực đang tăng trưởng mạnh nhất khắp nơi trên thế giới.
4. Những sản phẩm mà khách hàng có thể tìm mua trên mạng .
Nghiên cứu của Forester Research 1998 đã chia thị trường bán lẻ trực tuyến thành 3 loại mua bán: Hàng hoá tiện dụng, hàng hoá và dịch vụ nghiên cứu bổ sung và hàng hoá thông thường. Những hàng hoá tiện dụng được mua bán như là sách, âm nhạc, quần áo và nuoc hoa . Người ta dự tính là sự đa dạng của hàng hoá tăng lên, sự xuất hiện của dịch vụ gửi hàng và sự xúc tiến bán lẻ rộng rãi sẽ làm tăng sự thông dụng của việc buôn bán hàng hoá này trên mạng. Những hàng hoá bổ sung được mua bán phổ biến hơn, chẳng hạn như hàng tạp hoá, hàng cá nhân, những mặt hàng này tuy có giá thành trung bình nhưng lại là thiết yếu do trở ngại từ việc thiếu một hệ thống phân phối khả dĩ và sự bắt nhịp chậm chạp về thương mại điện tử của khách hàng. Cho nên người ta đánh giá thị trường này chủ yếu phát triển trong một số lĩnh vực nhất định như hàng đặc dụng, hàng dược phẩm. Chi phí của hàng hoá và dịch vụ liên quan đến nghiên cứu cao hơn nhiều so với hai chủng loại hàng hoá trên và là những mua bán được sắp đặt trước theo khuynh hướng thông tin; Loại này bao gồm vé máy bay, máy tính , ô tô. Việc cung cấp các nguồn thông tin trực tuyến và doanh số của loại này sẽ có xu hướng tăng lên đáng kể.
Những sản phẩm mà khách hàng có thể mua qua mạng .
Người ra dự tính rằng các lĩnh vực tăng trưởng chính trong thương mại điện tử sẽ là truyền thông toàn cầu và các ngành công nghiệp giải trí, du lịch (bao gồm khách sạn và hàng không), các dịch vụ chuyên nghiệp và tài chính, bảo hiểm và bán lẻ. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng những nhân tố thành công của các sản phẩm nhất định bao gồm các yếu tố: thương hiệu mạnh, sản phẩm đặc trưng và chào giá cạnh tranh.
Cần lưu ý rằng chưa có một nghiên cứu hoàn chỉnh nào về khía cạnh tâm lý của khách hàng trên mạng để xác định tại sao một số mảng khách hàng hoặc doanh nghiệp lại mua sản phẩm và dịch vụ này trong khi số khác thì không. Vào tháng 7/1998 trường Ðại học tổng hợp Wayne ở thành phố Chicagô thuộc tiểu bang Michigant đã tiến hành khảo sát 113 công ty, khoảng 87% số đó cho biết rằng họ không mua hàng hoá và dịch vụ trong 6 tháng trước đó. Có vẻ như rằng sự e ngại của khách hàng, ở một mức độ nhỏ hơn là của doanh nghiệp để tìm kiếm và mua hàng hoá và dịch vụ qua mạng đã vượt ra ngoài những lo ngại về vấn đề an ninh, tài chính của các giao dịch. Một nghiên cứu giới hạn đã được tiến hành để tìm ra những nhân tố này. Một câu hỏi khá thú vị là mức độ của việc thay đổi thói quen mua hàng của khách hàng và doanh nghiệp. Có lẽ các doanh nghiệp sẽ dễ dàng thay đổi hơn để cắt giảm chi phí, cải thiện thời gian giao hàng, liên lạc với nhà cung cấp, và đơn giản chỉ là tăng hiêu quả của việc đặt hàng, gửi hàng và giao hàng . Hơn nữa có lẽ hình thức mua bán giữa các doanh nghiệp B2B tăng lên bởi vì nó có đặc điểm khác với những thói quen mua hàng cá nhân truyền thống. Ðiều quan trọng là phải đặt ra câu hỏi có phải do đặc trưng của người mua hàng muốn trực tiếp đi dạo qua các gian hàng, các cửa hiệu, các trung tâm thương mại, các cửa hàng bách hoá hay là họ muốn mua hàng qua mạng để tiết kiệm thời gian cho những hoạt động khác như thể thao, giải trí,v.v...
P4P – Quảng cáo thế hệ mới Từ tiếng rao vặt thời sơ khai đến quảng cáo trên báo, đài phát thanh, đài truyền hình, tờ rơi, poster, panô, trên các phương tiện công cộng, tiếp đó là trên Internet, ngành quảng cáo có khá nhiều phương tiện hữu hiệu. Và một loại hình quảng cáo vừa ra đời gần đây ngay lập tức đã được sự quan tâm của giới quảng cáo ở các nước phát triển, đó là P4P.
P4P (Pay for performance hay Pay for Placement) được tạm dịch là “Quảng cáo bằng công cụ tìm kiếm”, là loại hình quảng cáo do các công ty cung cấp dịch vụ tìm kiếm như Google (dịch vụ Adwords), Overture (dịch vụ Sponsed search)… đưa ra. Các công ty có sản phẩm cần quảng cáo đăng ký với các công ty có dịch vụ P4P, đưa thêm các từ khóa (keyword) và… trả tiền. Khi người truy cập mạng tìm từ khóa đó, đường dẫn tới trang quảng cáo của các công ty có sản phẩm cần quảng cáo đã trả tiền sẽ lập tức hiện lên.
Ví dụ khi tìm trong google với từ “perfume”, bạn sẽ thấy bên phải của kết quả sẽ hiện lên một cột link tới các “nhà tài trợ”. Đó chính là các công ty có sản phẩm cần quảng cáo đã đăng ký với Google theo từ khóa “perfume”. Trường hợp cùng một từ khóa và có quá nhiều công ty muốn đăng ký để quảng cáo thì từ khóa này sẽ được bán đấu giá. Ai trả cao hơn sẽ được lên cao hơn trong cột “Nhà tài trợ”.
Về ích lợi quảng bá, Adwords hay Overture đều triển khai dịch vụ này tới tất cả các trang tìm kiếm chính như Yahoo, Infoseek, Google, MSN, Lycos, Fresheye… Vì vậy P4P hứa hẹn mang lại một tốc độ quảng bá rất nhanh, trên diện rộng, vượt quy mô quốc gia.
Phương thức tính tiền của P4P là ngoài tiền để đấu giá keyword đưa link của trang mình lên cao, khi có người click vào link của trang quảng cáo thì mới tính tiền. Vì vậy, công ty quảng cáo chỉ phải trả giá thuê hợp lý mà vẫn đảm bảo truyền đạt được thông tin tới cho đối tượng quảng cáo.
So sánh với các loại hình quảng cáo khác, P4P vẫn còn bị coi là “sơ khai”. Các trang quảng cáo được link tới vẫn không khác những trang web thông thường là mấy. Giải thích cho những nhược điểm này, các nhà kinh tế cho rằng, thứ nhất, P4P là loại hình quảng cáo tự biên tự diễn, cứ có tiền đăng ký quảng cáo với các công ty dịch vụ là xong, không qua một sự thẩm tra đánh giá nào. Thêm vào đó, các đường link dẫn tới các trang quảng cáo đều phải tuân theo định dạng của trang tìm kiếm.
Vì vậy, các “nhà tài trợ” không có cách nào khác để làm cho link của mình bắt mắt người dùng, ngoài việc trả tiền thật cao để được đưa link của mình lên trang đầu. Thứ hai, tuy phương thức tính tiền theo số click vào link là hợp lý, nhưng vẫn không tránh khỏi tình trạng những người tìm kiếm không quan tâm đến quảng cáo mà vẫn click lung tung vào các link. Thứ ba, kỹ thuật Internet cũng như kỹ thuật quảng cáo hiện tại vẫn chưa đủ sức làm P4P hấp dẫn người tiêu dùng (B2C – Business to Consumer) trong các lĩnh vực quảng cáo đồ tiêu dùng hàng ngày như thực phẩm hay nước hoa… Vì vậy, hiện tại P4P vẫn đang dừng ở mức quảng cáo sản phẩm giữa các công ty với nhau (B2B – Business to Business).
Hy vọng rằng với sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh doanh thông qua Internet, P4P sẽ là một thị trường quảng cáo hứa hẹn. Không chỉ những khách hàng có thương hiệu lớn cần quan tâm, mà các công ty quảng cáo cũng sẽ đầu tư nhiều hơn vào lĩnh vực này. Độc giả có thể tới trang đăng ký P4P của Google Việt Nam để tìm hiểu kỹ hơn về P4P do Google Adwords cung cấp http://adwords.Google.com/select/?Hl=vi.
Các thuê bao của mạng di động Sprint Nextel, Mỹ giờ đây sẽ có thể sử dụng điện thoại để mua sắm mọi thứ, từ vô tuyến cho tới dép xỏ ngón.
Mạng di động lớn thứ 3 tại Mỹ vừa chính thức khai trương dịch vụ mới "Mobile Shopper" sáng nay, cho phép người dùng thỏa sức sắm sanh hoặc so sánh giá cả của 7 triệu sản phẩm khác nhau.
Dịch vụ này bắt tay cùng 30 hãng bán lẻ lớn nhất nước Mỹ, trong số này bao gồm cả những cái tên "sừng sững" như Wal-Mart, Target hay Shoes.com.
Là dịch vụ liên kết với hãng công nghệ mShopper.com, "Mobile Shopper" là dịch vụ đầu tiên trên đất Mỹ cho phép người dùng đi "siêu thị" trực tiếp bằng ĐTDĐ. Người dùng sẽ không bị tính cước khi sử dụng dịch vụ, nhưng họ sẽ bị tính tiền truy cập Web qua mạng di động.
"Đây là cơ hội lớn để Sprint tăng doanh thu từ dữ liệu", Giám đốc sản phẩm Charnsin Tulyasathien của Sprint cho biết.
Con gấu ngủ đông
Cũng như các mạng đối thủ, Sprint luôn tìm mọi cách thúc đẩy những dịch vụ dữ liệu như lướt Web, tải nhạc và video trong nỗ lực khai thác nguồn thu mới, bù đắp cho doanh thu từ dịch vụ đàm thoại ngày một sa sút.
Tuy mua sắm trực tuyến đã là hoạt động quen thuộc của người dùng máy tính, nhưng thương mại di động vẫn chưa thể cất cánh. Nguyên nhân chủ yếu là vì Internet di động phát triển quá chậm.
Mặc dù vậy, hãng nghiên cứu Jupiter Research tin rằng thế hệ mạng siêu tốc trong tương lai, cùng với những mẫu điện thoại cao cấp sẽ kích thich thị trường mua sắm di động một cách mạnh mẽ.
Jupiter dự đoán rằng thị trường mua sắm di động của Bắc Mỹ sẽ đạt tới doanh thu 505 triệu USD vào năm 2008 và tăng lên tới 1,9 tỷ USD vào năm 2010, vượt xa con số khiêm tốn 40 triệu USD hồi năm ngoái.
Về khoản này, Mỹ tỏ ra thua kém châu Âu khi doanh thu từ mua sắm di động ở cựu lục địa đã đạt 200 triệu USD từ năm 2006.
Còn theo nhận định của Tulyasathien, ban đầu, tính năng so sánh đối chiếu giá cả sẽ được thuê bao của Sprint ưa dùng hơn. "Nhưng dần dà, thói quen mua sắm cũng sẽ hình thành khi người dùng cảm thấy quen và thoải mái hơn".
Thương mại điện tử (TMĐT) là một khái niệm mới. Mặc dù ra đời chưa lâu nhưng nó đã nhanh chóng khẳng định được vị thế của mình nhờ sức hấp dẫn cũng như đà phát triển khá ngoạn mục. Cùng với sự phát triển chóng mặt của Internet, TMĐT đang có những bước tiến rất nhanh với tốc độ ngày càng cao.
Những đặc điểm của TMĐT
Đây là loại hình kinh doanh sử dụng hệ thống mạng Internet toàn cầu để xây dựng nên một “thị trường ảo” cho tất cả các loại hình sản phẩm, dịch vụ, công nghệ và hàng hoá, trong đó bao gồm tất cả các hoạt động cần thiết để hoàn tất một thương vụ kinh doanh, kể cả đàm phán, trao đổi chứng từ, truy cập thông tin, thanh toán qua hệ thống ngân hàng. Tất cả được thực hiện trong điều kiện an toàn và bảo mật cao. Vì thế, TMĐT còn có những tên gọi khác như “nền kinh tế ảo”, “nền kinh tế dot-com”.
Nếu như trong kinh doanh truyền thống, sản phẩm của các doanh nghiệp được bày trên các kệ của cửa hàng hay siêu thị với các thủ tục đặt hàng, giao hàng, thanh toán công nợ giữa người bán và người mua...thì trong thương mại điện tử, chúng ta không cần phải vận chuyển sản phẩm, không tốn tiền thuê mặt bằng mà vẫn có thể tiếp cận được khách hàng thông qua các siêu thị ảo,chợ ảo trên mạng. Chỉ cần một cú nhấp chuột, bạn có thể ngồi bất cứ nơi đâu mà vẫn dễ dàng làm một cuộc dạo chơi hay mua sắm trên mạng với vô vàn sản phẩm, từ cây kim sợi chỉ cho đến xe hơi, du thuyền. Nói chung, với sự trợ giúp của Internet, TMĐT đã trở thành một môi trường kinh doanh mới, xóa nhòa mọi ranh giới quốc gia và đang tạo ra một thị trường lớn nhất từ trước đến nay. Với TMĐT, thế giới có thêm nhiều triệu phú, tỷ phú mà tên tuổi đã trở thành biểu tượng của một thời đại mới - thời đại Internet và nền kinh tế tri thức.
So với thương mại truyền thống, TMĐT tỏ ra là một công cụ kinh doanh hữu hiệu với những ưu thế vượt trội. Cách đây khoảng ba thập kỷ, General Electric (GE), tập đoàn điện tử tiêu dùng hàng đầu thế giới, vẫn còn “ì ạch” giao dịch với các đối tác kinh doanh bằng thư từ vận chuyển trên tàu thuỷ có tốc độ khoảng 20 dặm/giờ. Chính GE cũng nhận thấy những bất cập của cách làm này và sau đó đã thay thế tàu thuỷ bằng máy bay, nhưng cũng phải mất gần 1 tuần, những bản chào hàng hay dự thảo hợp đồng mới đến được tay đối tác. Nỗi băn khoăn lớn của GE là làm thế nào rút ngắn “thời gian chết” để giao dịch thương mại diễn ra nhanh chóng hơn? Và rồi mọi việc đã thay đổi một cách khó tin. Thương mại điện tử (TMĐT) xuất hiện vào cuối thập niên 80 đã làm nên cuộc cách mạng trong kinh doanh, khi mà thư từ giao dịch được truyền tải với tốc độ lên đến 30,000 dặm/giây. Thay vì mất 1 tuần như trước kia thì nay chỉ cần chưa đầy 1 phút, chỉ cần một cú click chuột, khách hàng đã nhận được bảng báo giá với đầy đủ thông tin từ GE để rồi hai bên có thể giao kết hợp đồng ngay trong ngày. Giờ đây, bất cứ doanh nhân nào khi được hỏi về TMĐT, cũng đều thừa nhận ưu thế vượt trội của loại hình kinh doanh mới mẻ này – đó là tốc độ, chi phí, khách hàng và xử lý đơn hàng.
Trong TMĐT có hai khái niệm chính:
B2B (Business To Business): Là hình thức kinh doanh giữa các nhà cung cấp, giữa nhà sản xuất sản phẩm và các đại lý. B2C (Business To Customer): Là các giao dịch kinh doanh trực tiếp giữa nhà cung cấp và khách hàng.
Cả hai hình thức TMĐT này đều được thực hiện trực tuyến trên mạng Internet, tuy nhiên, giữa chúng tồn tại sự khác biệt. Trong khi TMĐT B2B được coi là hình thức kinh doanh bán buôn với lượng khách hàng là các doanh nghiệp, các nhà sản xuất thì TMĐT B2C lại là hình thức kinh doanh bán lẻ với đối tượng khách hàng chính là các cá nhân. Trong TMĐT B2B, việc giao dịch giữa một doanh nghiệp với một doanh nghiệp khác thường bao gồm nhiều công đoạn: từ việc chào bán sản phẩm, mô tả đặc tính kỹ thuật của sản phẩm cho đến đàm phán giá cả, điều kiện giao hàng, phương thức thanh toán… . Chính vì vậy mà các giao dịch này được coi là phức tạp hơn so với việc bán hàng cho người tiêu dùng.
Trên thế giới, xu hướng TMĐT B2B chiếm ưu thế vượt trội so với B2C trong việc lựa chọn chiến lược phát triển của các công ty kinh doanh trực tuyến. B2B được coi như là một kiểu “phòng giao dịch ảo”, nơi sẽ thực hiện việc mua bán trực tuyến giữa các công ty với nhau, hoặc cũng có thể gọi là sàn giao dịch mà tại đó, các doanh nghiệp có thể mua bán hàng hoá trên cơ sở sử dụng một nền công nghệ chung. Khi tham gia vào sàn giao dịch này, khách hàng có cơ hội nhận được những giá trị gia tăng như dịch vụ thanh toán hay dịch vụ hậu mãi, dịch vụ cung cấp thông tin về các lĩnh vực kinh doanh, các chương trình thảo luận trực tuyến và cung cấp kết quả nghiên cứu về nhu cầu của khách hàng cũng như các dự báo công nghiệp đối với từng mặt hàng cụ thể.
Với ưu thế sẵn có của mình, thương mại điện tử B2B có thể giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí trong quá trình tham gia kinh doanh như chi phí quản lý kho bãi, mặt bằng, chi phí giấy tờ, tài liệu, chi phí đầu vào của sản phẩm, chi phí tổ chức nhân sự…
Dự đoán năm 2005, tổng doanh số TMĐT trên toàn cầu sẽ vượt qua mức 680 tỷ USD, còn theo ước tính của Leadpile.com, một công ty chuyên theo dõi số liệu Internet, TMĐT sẽ vượt qua mốc 1000 tỷ USD vào năm 2012. Thậm chí, sự gia tăng doanh số của các hoạt động TMĐT đã trở thành tiền đề cho sự hình thành thị trường chứng khoán Nasdaq – nơi gặp gỡ của những công ty có tiếp vĩ ngữ “.com”. Những biến động của thị trường chứng khoán này luôn có ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số Dow Jones cùng các chỉ số khác tại hầu hết các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới.
Việt nam và những bước hội nhập
Cuối những năm 1990, TMĐT vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ ở nước ta. Nhưng dưới sức lan tỏa rộng khắp của TMĐT, các công ty Việt Nam cũng đang từng bước làm quen với phương thức kinh doanh hiện đại này.
Ngày 26 tháng 8 năm 2005, cổng TMĐT quốc gia ECVN với Bộ Thương mại là cơ quan chủ quản, có địa chỉ tại website http://www.ecvn.gov.vn đã chính thức ra mắt với mục đích hỗ trợ các công ty nhanh chóng làm quen và tham gia vào TMĐT, qua đó nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước khi tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng sâu rộng trên phạm vi toàn cầu. Cổng giao dịch với ngôn ngữ thể hiện là tiếng Anh và tiếng Việt sẽ rất thuận tiện cho các công ty trong quá trình sử dụng và tra cứu.
Với tốc độ tăng trưởng tỷ lệ người sử dụng Internet là 123,4%/năm (cao nhất trong khu vực ASEAN), đạt 1,9 triệu thuê bao Internet và gần 5,9 triệu người sử dụng trong năm 2004, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng rất lớn trong việc phát triển TMĐT. Theo dự báo về mức tăng trưởng thị trường công nghệ thông tin Việt Nam của IDG, trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2008, mức chi tiêu cho công nghệ thông tin của Việt Nam nằm trong tốp 10 nước đứng đầu thế giới và sẽ vượt qua Trung Quốc với tỷ lệ tăng trưởng đạt 16%. Việt Nam cũng được đánh giá là quốc gia rất nhanh nhạy với mô hình kinh doanh trực tuyến.
Tuy vậy, chúng ta không thể phủ nhận rằng hoạt động TMĐT tại Việt Nam vẫn còn có những điểm yếu nhất định. Hầu hết các website B2B chưa có định hướng hoạt động rõ ràng, mà chúng ta chủ yếu mới chỉ dừng lại ở giai đoạn thiết lập và thử nghiệm, giá trị giao dịch thực tế còn rất thấp. Loại hình giao dịch B2B chưa thật sự hình thành ở Việt Nam. Các công ty nói chung khá nhanh nhạy trong việc áp dụng TMĐT, nhưng còn không ít công ty đến với hình thức này theo kiểu “phong trào”, chưa kể số lượng các website cung cấp dịch vụ TMĐT quy mô lớn chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Giấc mơ về một hình mẫu Alibaba.com tại Việt Nam.
Cả thế giới vẫn chưa hết ngạc nhiên về những bước tiến thần kì của mạng kinh doanh trực tuyến Alibaba.com của Trung Quốc. Được đánh giá như một “bà mối” mát tay cho các cuộc “hôn nhân” trong lĩnh vực thương mại, Alibaba.com đang càng ngày càng ăn nên làm ra với doanh thu và lợi nhuận tăng lên không ngừng. Từ một công ty nhỏ với số vốn đầu tư ban đầu không nhiều, Alibaba.com đã phát triển thành một đế chế với doanh thu năm 2004 là 2,1 tỷ USD trong đó có 780 triệu USD đến từ nguồn thương mại điện tử.
Trước sự sôi động của thị trường TMĐT thế giới, nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng đã vào cuộc với mong muốn kết nối các doanh nghiệp trong nước với đối tác nước ngoài, mở ra những cơ hội kinh doanh mới trong sự hội nhập kinh tế quốc tế. Một trong số đó là Công ty tư vấn và cung ứng giải pháp TMĐT Tiên Phong(Eclead) với trang web www.gophatdat.com. Đúng như tên gọi của mình, công ty Tiên Phong đang muốn trở thành người tiên phong trong lĩnh vực TMĐT tại Việt Nam với mong muốn kết nối các doanh nghiệp trong nước với các bạn hàng quốc tế, khơi thông dòng chảy giao thương, góp phần tạo ra sức mạnh cho nền kinh tế đất nước. Xuất hiện cách đây không lâu, trang webwww.gophatdat.com đã nhanh chóng trở thành một trong những địa chỉ tin cậy cho các doanh nghiệp muốn tham gia vào thị trường TMĐT sôi động. Đây là một sàn giao dịch TMĐT mang tính toàn cầu với nhiều loại danh mục hàng hóa, từ các mặt hàng nông sản, thực phẩm, thủy hải sản, may mặc, giày da… vốn là thế mạnh của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cho đến các sản phẩm máy tính, điện tử hoặc các dịch vụ khác. Tại đây, khách hàng có thể dễ dàng chào mua, chào bán các sản phẩm, mở rộng các mối quan hệ giao thương với các đối tác tại nhiều quốc gia trên thế giới. Chỉ cần đăng thông tin lên mạng www.gophatdat.com yêu cầu của bạn sẽ được nhiều người biết đến, không chỉ giới hạn trong phạm vi địa lý hạn hẹp mà phổ biến rộng rãi trên toàn cầu. Đó cũng là một trong những tiêu chí kinh doanh của ban điều hành trang web – Bring Vietnam to the World (Mang Việt Nam đến với thế giới). Và đó cũng là ước muốn, khát khao chính đáng của các thành viên sáng lập trang web.
Mặc dù còn nhiều khó khăn và thách thức nhưng kể từ khi Jeff Bezos, thành viên sáng lập kiêm giám đốc điều hành Amazon.com, đặt những viên gạch đầu tiên cho hoạt động TMĐT đến nay, sự thành công của Amazon.com, Buy.com, Cisco… đã cho thấy mối lo ngại rằng TMĐT có thể thay thế các hình thức kinh doanh truyền thống, khiến cho những con phố buôn bán sầm uất trở nên thưa thớt, là có cơ sở. Điều này cũng lý giải tại sao một người đàn ông có sự nghiệp thành công tại Wall Street như Jeff Bezos lại nhẹ nhàng từ bỏ công việc kinh doanh của mình, đi suốt chiều ngang nước Mỹ tới tận Seattle và bắt đầu một công ty trong lĩnh vực hoàn toàn mới, để rồi chưa đầy 4 năm sau đã biến nó thành một trong những công ty danh tiếng nhất thế giới về TMĐT. Hy vọng rằng trong tương lai không xa, với sự trợ giúp đắc lực của những công ty kinh doanh TMĐT như www.gophatdat.com, chúng ta cũng sẽ có những Alibaba.com mang tên Việt nam!